BÀI 22: Buổi học cuối cùng


BUỔI HỌC CUỐI CÙNG

(Chuyện của một em bé người An-dát)

       Buổi sáng hôm ấy, đã quá trễ giờ đến lớp, tôi rất sợ bị quở mắng,càng sợ vì thầy Ha-men đã dặn trước rằng thầy sẽ hỏi bài chúng tôi về các phân từ mà tôi chẳng

thuộc lấy một chữ. Tôithoáng nghĩ hay là trốn học và rong chơi ngoài đồng nội.

       Trời sao mà ấm đến thế, trong trẻo đến thế!

       Nghe thấy sáo hót ven rừng và trên cánh đồng cỏ Ríp-pe, sau xưởngcưa, lính Phổ đang tập. Tất cả những cái đó cám dỗ tôi hơn là quy tắc về phân từ;nhưng tôi cưỡng lại được, và ba chân bốn cẳng chạy đến trường.

            Khiqua trước trụ sở xã, tôi thấy có nhiều người đứng trước bảng dán cáo thị có lưới che. Từ hai nămnay, chính từ chỗ ấy, lan đến chúng tôi mọi tin chẳng lành, những cuộc thất trận, những vụ trưng thu, những mệnh lệnh của banchỉ huy Đức; và tôi nghĩ mà không dừng chân: “Lại có chuyện gì nữa đây?”

       Bác phó rèn Oát-stơ đang đọc cáo thị cùng cậu học việc thấytôi chạy qua liền lớn tiếng bảo:

       — Đừng vội vã thế cháu ơi, đến trường lúc nào cũng vẫn còn làsớm!  

       Tôi tưởng bác nhạo tôi và tôi hổn hển thở dốc, bước vào khoảnhsân nhỏ nhà thầy Ha-men.

       Thông thường, bắt đầu buổi học, tiếng ồn ào như vỡ chợ vang ratận ngoài phố, nào tiếng ngăn bàn đóng mở, tiếng mọi người vừa đồng thanh nhắclại rất to các bài học, vừa bịt tai lại cho dễ thuộc và tiếng chiếc thước kẻ totướng của thầy gõ xuống bàn:

       — Yên một chút nào!

            Tôiđịnh nhân lúc ồn ào, hỗn độn ấy lẻn vào chỗ ngồi để không ai trông thấy; nhưngđúng ngày hôm đó, mọi sự đều bình lặng y như một buổi sáng chủ nhật. Qua cửa sổmở, tôi thấy các bạn đã ngồi vào chỗ, và thầy Ha-men đi đi lại lại với cây thướcsắt khủng khiếp kẹp dưới nách. Phải mở cửa đi vào giữa sự lặng ngắt đó, các bạntưởng tượng xem tôi đỏ mặt tía tai và sợ đến chừng nào!

       Thế mà không. Thầy Ha-men nhìn tôi chẳng giận dữ và bảo tôi thậtdịu dàng:

       — Phrăng, vào chỗ nhanh lên con; lớp sắp bắt đầu học mà vắng mặtcon.

            Tôibước qua ghế dài và ngồi ngay xuống trước bàn mình. Chỉ đến lúc ấy, đã hơi hoànhồn, tôi mới nhận ra thầy giáo chúng tôi mặc chiếc áo rơ-đanh-gốt màu xanh lục, diềm lá sen gấp nếp mịn và đội cái mũ tròn bằng lụa đenthêu mà thầy chỉ dùng vào những hôm có thanh tra hoặc phát phần thưởng. Ngoàira, lớp học có cái gì đó khác thường và trang trọng. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiênhơn cả, là trông thấy ở phía cuối lớp, trên những hàng ghế thường bỏ trống, dânlàng ngồi lặng lẽ giống như chúng tôi, cụ già Hô-de, trước đây là xã trưởng vớicái mũ ba sừng, bác phát thư trước đây, và nhiều người khác nữa. Ai nấy đều cóvẻ buồn rầu; và cụ Hô-de mang theo quyển tập đánh vần cũ đã sờn mép để mở rộngtrên lòng, cặp kính lớn đặt ngang trang sách.

       Tôi còn đang ngạc nhiên về tất cả những điều đó thì thầyHa-men đã bước lên bục, rồi vẫn với giọng dịu dàng và trang trọng như lúc tôi mớivào, thầy nói với chúng tôi:

       — Các con ơi, đây là lần cuối cùng thầy dạy các con. Lệnh từ Béc-lin là từ nay chỉ dạy tiếngĐức ở các trường vùng An-dát và Lo-ren... Thầy giáo mới ngày mai sẽ đến.

Hôm nay là bài học Phápvăn cuối cùng của các con. Thầy mong các con hết sức chú ý.

       Mấy lời đó làm tôi choáng váng. A! Quân khốn nạn, thì ra đó làđiều chúng vừa niêm yết ở trụ sở xã.

       Bài học Pháp văn cuối cùng của tôi!...

       Mà tôi thì mới biết viết tập toạng! Vậy là sẽ chẳng bao giờ đượchọc nữa ư, phải dừng ở đó ư!... Giờ đây tôi tự giận mình biết mấy về thời gianbỏ phí, về những buổi

trốn học đi bắt tổ chimhoặc trượt trên hồ. Những cuốn sách vừa nãytôi còn thấy chán ngán đến thế, mang nặng đến thế, quyển ngữ pháp, quyển thánhsử của tôi giờ đây dường như những người bạn cố tri mà tôi sẽ rất đau lòng phải giã từ. Cũng giốngnhư thầy Ha-men. Cứ nghĩ thầy sắp ra đi và tôi không còn được gặp thầy nữa, làtôi quên

cả những lúc thầy phạt,thầy vụt thước kẻ.

       Tội nghiệp thầy!

       Chính để tôn vinh buổi học cuối cùng này mà thầy đã vận y phụcđẹp ngày chủ nhật và bây giờ tôi hiểu vì sao các cụ già trong làng lại đến ngồiở cuối lớp học. Điều

đó như nói rằng các cụ tiếc đã không lui tớingôi trường này thường xuyên hơn. Dường như đó cũng là một cách để tạ ơn thầygiáo chúng tôi về bốn mươi năm phụng sự hết lòng, và để trọn đạo với Tổ quốcđang ra đi...

       Tôi đang suy nghĩ mung lung thì bỗng nghe gọi tên mình. Đến lượttôi đọc bài. Giá mà tôi đọc được trót lọt cái quy tắc về phân từ hay ho ấy, đọcthật to, thật dõng dạc, không phạm một lỗi nào thì dù có phải đánh đổi gì cũngcam; nhưng tôi lúng túng ngay từ đầu và tôi cứ đứng đung đưa người trước chiếcghế dài, lòng rầu rĩ, không dám ngẩng đầu lên. Tôi nghe thấy thầy Ha-men bảotôi:

            —Phrăng ạ, thầy sẽ không mắng con đâu, con bị trừng phạt thế là đủ rồi... con thấyđó. Ngày nào người ta cũng tự nhủ: “Chà! Còn khối thì giờ. Ngày mai ta sẽ học”.Và rồi con thấy điều gì xảy đến... Ôi! Tai họa lớn của xứ An-dát chúng ta làbao giờ cũng hoãn việc học đến ngày mai. Giờ đây những kẻ kia có quyền bảochúng ta rằng: “Thế nào! Các người tự nhận là dân Pháp, vậy mà các người chẳngbiết đọc, biết viết tiếng của các người!...“ Dù thế nào, thì Phrăng tội nghiệpcủa thầy ạ, con vẫn chưa phải là người đáng tội nhất! Mà tất cả chúng ta aicũng có phần đáng tự chê trách.

       Cha mẹ các con không thiết tha lắm với việc thấy các con có họcthức. Cha mẹ thích cho các con làm việc đồng áng hoặc vào làm nhà máy sợi để kiếmthêm dăm xu. Cả thầy cũng không có gì để trách mình ư? Thầy đã chẳng sai cáccon tưới vườn thay vì học hành đó sao? Và khi thầy muốn đi câu cá hương, thầycó ngại ngùng cho các

con nghỉ học đâu?...

       Thế rồi, từ điều này sang điều khác, thầy Ha-men nói với chúngtôi về tiếng Pháp, bảo rằng đó là ngôn ngữ hay nhất thế giới, trong sáng nhất,vững vàng nhất: phải giữ

lấy nó trong chúng ta và đừng bao giờ quênlãng nó, bởi vì khi một dân tộc rời vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vữngtiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù...

       Rồi thầy cầm một quyển ngữ pháp và đọc bài học cho chúng tôi.Tôi kinh ngạc thấy sao mình hiểu đến thế. Tất cả những điều thầy nói, tôi thấythật dễ dàng, dễ dàng. Tôi cũng cho là chưa bao giờ mình chăm chú nghe đến thế,và cả thầy giáo nữa, chưa bao giờ thầy kiên nhẫn giảng giải đến thế. Cứ như thểtrước khi ra đi, con người tội nghiệp muốn truyền thụ toàn bộ tri thức củamình, muốn đưa ngay một lúc tri thức ấy vào đầu óc chúng tôi.

            Xongbài giảng, chuyển sang viết tập. Thầy Ha-men đã chuẩn bị cho ngày hôm đó nhữngtờ mẫu mới tinh, trên có viết bằng “chữ rông” thật đẹp: Pháp, An-dát, Pháp, An-dát. Những tời mẫu treo trướcbàn học trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp. Ai nấy đềuchăm chú hết sức và cứ im phăng phắc! Chỉ nghe thấy tiếng ngòi bút sột soạttrên giấy. Có lúc những con bọ dừa bay vào nhưng chẳng ai để ý, ngay cả nhữngtrò nhỏ nhất cũng vậy, chúng đang cặm cụi vạch những nét sổ với một tấm lòng, mộtý thức, như thể cái đó cũng là tiếng Pháp... Trên mái nhà trường, chim bồ câugù thật khẽ, và tôi vừa nghe vừa tự nhủ:

       — Liệu người ta có bắt cả chúng nó cũng phải hót bằng tiếng Đứckhông nhỉ?

            Chốcchốc, ngước mắt khỏi trang giấy, tôi thấy thầy Ha-men đứng lặng im trên bục vàđăm đăm nhìn những đồ vật quanh mình như muốn mang theo trong ánh mắt toàn bộngôi trường nhỏ bé của thầy... Bạn nghĩ mà xem! Từ bốn mươi năm nay, thầy vẫnngồi ở chỗ ấy, với khoảnh sân trước mặt và lớp học y nguyên không thay đổi. Cóchăng những chiếc ghế dài, những bàn học dùng nhiều đã nhẵn bóng, những cây hồđào ngoài sân đã lớn, và cây hu-blông tự tay thầy trồng giờ đây quấn quýt quanh các khung cửa sổ lên tậnmái nhà. Con người tội nghiệp hẳn phải nát lòng biết mấy khi giã từ tất cả nhữngvật ấy, khi nghe thấy tiếng người em gái đi đi lại lại, đóng hòm xiểng, ở gianphòng bên trên, vì ngày mai họ phải ra đi, rời khởi xứ sở này mãi mãi.

       Tuy nhiên, thầy vẫn đủ can đảm dạy chúng tôi cho đến hết buổi.Sau tiết viết tập đến bài Lịch sử, rồi những trò nhỏ cất tiếng đọc đồng thanhnhư hát Ba Be Bi Bo Bu. Đằng kia, cuối phòng học,cụ Hô-de đã đeo kính lên, và nâng cuốn sách vỡ lòng bằng hai tay, cụ đánh vần từngchữ theo bọn trẻ. Cả cụ cũng chăm chú, giọng cụ run run vì xúc động; nghe cụ đọcthật kì cục, đến nỗi tất cả chúng tôi muốn cười và cũng muốn khóc... Ôi! Tôi sẽnhớ mãi buổi học cuối cùng này!

        Bỗng đồng hồ nhà thờ điểm mười hai giờ, rồi đến chuông cầunguyện buổi trưa. Cùng lúc đó, tiếng kèn của bọn lính Phổ đi tập về vang lênngoài cửa sổ... Thầy Ha-men đứng dậy trên bục, người tái nhợt. Chưa bao giờ tôicảm thấy thầy lớn lao đến thế.

       — Các bạn, thầy nói, hỡi các bạn, tôi... tôi...

       Nhưng cái gì đó khiến thầy nghẹn ngào, không nói được hết câu.

       Thầy bèn quay về phía bảng, cầm một hòn phấn và dằn mạnh hết sức,thầy cố viết thật to:

                          “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”

       Rồi thầy đứng đó, đầu dựa vào tường, và chẳng nói, giơ tay rahiệu cho chúng tôi:

       “Kết thúc rồi... đi đi thôi!”.

        (An-phông-xơ Đô-đê(*), theo bản dịch của Trần Việt — Anh Vũ trong Những vì sao,          

        NXB Văn học, Hà Nội, 1981, có đối chiếu nguyên tác và sửamột số chỗ).

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

(*) An-phông-xơ Đô-đê (1840 — 1897) nhà văn Pháp, tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổitiếng. Truyện Buổi học cuối cùng lấy bối cảnh từ một biến cố lịch sử:Sau cuộc chiến           tranh Pháp — Phổnăm 1870 — 1871, nước Pháp thua trận, hai vùng An-dát và Lo-ren giáp biên giớivới Phổ bị nhập vào nước Phổ. Phổ là tên của một nước chuyên chế tronglãnh thổ Đức trước đây. Cho nên các trường học ở hai vùng này bị buộc học bằngtiếng Đức. Truyệt viết về buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở một trường làngthuộc vùng An-dát.

(1) Phân từ: mộthình thức biến đổi của động từ trong tiếng Pháp.

(2) Cáo thị: thôngcáo của chính quyền dán nơi công cộng.

(3) Thất trận: thua trận(thất: mất, tổn thất).

(4) Trưng thu: (chínhquyền) buộc tư nhân hoặc tập thể phải giao tài sản của mình cho nhà nước.

(5) Rơ-đanh-gốt: một kiểu áo lễ phục, cài chéo.

(6) Diềmlá sen: diềm bằng đăng ten hoặc sa mỏng đính vào cổ áo trong khi mặc lễphục.

(7) Béc-lin: thủ đônước Phổ bấy giờ.

(8) Niêm yết: dán lênđể báo cho mọi người biết.

(9) Trượt trên hồ: có bảnin là   trượt tuyết trên đồi Sa.

(10) Cố tri: người bạnquen biết từ lâu (cố: cũ; tri: biết, quen biết).

(11) “Chữ rông”: kiểuchữ viết có nét tròn và đậm nét, thường dùng để viết văn bằng, giấy khen.

(12) Hu-blông: câythân leo, hoa dùng làm hương liệu trong công nghệ làm bia.

(13) Ba Be Bi Bo Bu: âm tiết tiếng Pháp với phụ âm “B” ở đầu, dùng để học vần tiếngPháp.

 

 

LUYỆN TẬP

1.    Kể tóm tắt lại truyện Buổi học cuối cùng.

2.    Viết một đoạn văn miêu tả nhân vật thầy Ha-men hoặc chú bé Phrăngtrong buổi học

       cuối cùng bằng tiếng Pháp.

 

ĐỌC THÊM

TIẾNG MẸ ĐẺ

Mơ hồ thấm từng âm thanh tiếng mẹ

Tôi bỗng tỉnh ra. Tới giây phút lạ lùng

Tôi chợt hiểu, người chữa tôi khỏi bệnh

Chẳng thể là ai, ngoài tiếng mẹ thân thương.

Những tiếng khác dành cho dân tộc khác

Cũng sẽ khiến cho lành bệnh bao người

Tôi chỉ biết nếu tiếng tôi biến mất

Thì tôi sẵn sàng nhắm mắt buông xuôi.

(R.Gam-da-tốp, Đa-ghe-xtan của tôi, tập I,NXB Cầu vồng,Mát-xcơ-va 1984)


TỪ NGỮ

 

Nối các từ bên cột trái với phần giải nghĩa thích hợp bên cộtphải

 

1.

Niêm yết                                người bạn quen biết từlâu.

Rơ-đanh-gốt                          thua trận.

Cố tri                                      một kiểu áo lễ phục, càichéo.

Cáo thị                                   dán lên để báo cho mọingười biết.

Thất trận                                thông cáo của chính quyềndán nơi công cộng.

 

2.

Trưng thu                              buộc tư nhân hoặc tập thểphải giao tài sản của mình cho            nhànước.

Hu-blông                               thông cáo của chính quyềndán nơi công cộng.

 

Cáo thị                                   kiểu chữ viết có nét trònvà đậm nét, thường dùng để viết           vănbằng, giấy khen.

Niêm yết                                dán lên để báo cho mọingười biết.

 

“Chữ rông”                           cây thân leo, hoa dùnglàm hương liệu trong công nghệ làm        bia.

 

3.

Phân từ                                  người bạn quen biết từlâu.

 

Thất trận                                diềm bằng đăng ten hoặcsa mỏng đính vào cổ áo trong khi         mặclễ phục.

Diềm lá sen                           một kiểu áo lễ phục, càichéo.

 

Rơ-đanh-gốt                          một hình thức biến đổi củađộng từ trong tiếng Pháp.

 

Cố tri                                      thua trận.

 

 


 

LÀM VĂN

 

Kiếnthức

 

PHƯƠNG PHÁP TẢ CẢNH

PHƯƠNG PHÁP VIẾT VĂN TẢ CẢNH

1.    Đọc ba văn bản sau

       a. Những động tác thả sào, rút sào rập ràngnhanh như cắt. Thuyền cố lấn lên. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc,các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửaghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của    TrườngSơn oai linh hùng vĩ.

                                                                                                        (VõQuảng)

 

       b. Thuyền chúng tôi chèothoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Dòng sông NămCăn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đànđen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyềnxuôi giữa dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựnglên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. Cây đước mọc dài theo bãi, theo từnglứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắptừng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xan

Trả lời Mai Le , 12:28 ngày 30/03/2014 Xem thêm
Thảo luận liên quan