Quan niệm về vị trí người phụ nữ trong các xã hội

Thảo luận 1

Mỗi 1 nền văn hóa, 1 nền sản xuất lại có những quan niệm khác nhau về vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Các quốc gia gần gũi mang nhiều điểm chung như Đông Á trọng nam khinh nữ thì vẫn tồn tại những khác biệt rất cơ bản.
Mục đích của topic này là tìm hiểu về những sự giống và khác nhau ấy và nguyên nhân của chúng, đặc biệt trong thế giới ngày nay.
Tôi cũng muốn biết quan niệm cá nhân của các bạn nam về phái kia, đồng thời suy nghĩ về chính bản thân của các bạn nữ.
Tôi tin rằng biết được hơn 1 nửa số người trong xã hội được đặt ở đâu là có thể hiểu trình độ phát triển cũng như tương lai của xã hội ấy.

Thảo luận 2

Theo như tớ nghĩ phụ nữ với những đặc điểm sinh học và nhiệm vụ thiêng liêng của mình rất khó để có thể có vai trò binh đẳng với nam giới . chẳng hạn các chức vụ quan trọng như thủ tướng , tổng thống đòi hỏi sự quyết đoán, kiên nhẫn , chịu áp lực giỏi đều do nam giới đảm nhận (phụ nữ rất hiếm ) , các tố chất của một nhà lãnh đạo giỏi đều do một hoocmon nào đó mà chỉ nam giới mới có . Nhìn lại lịch sử thì các thủ lĩnh, lãnh đạo , các nhà triết học , khoa học giỏi kiệt xuất đều là nam giới cả ( phụ nữ cũng có nhưng rất hiếm )

Tình trạng trọng nam khinh nữ có ở hầu hết các quốc gia kể cả phương tây bằng chứng là cùng một công việc nhưng nam giới thường được trả nhiều tiền hơn .

Những người phụ nữ muốn có địa vị trong xã hội thường phải hi sinh rất nhiều , hi sinh tình yêu , không lập gia đình ( ngoại trưởng Rice ) , hay không có con (Angela Merkel...) bà Clinton là trường hợp ngoại lệ vì dựa vào danh tiếng của chồng.

Thảo luận 3

Trong lịch sử phụ nữ ít đóng góp cho KH hay ít thấy họ trong việc lãnh đạo là vì ngày xưa người phụ nữ thường chỉ được xem như công cụ họ bị trói buộc trong góc nhà chứ không hẳn là vì họ không có tố chất bằng nam giới trong WWII phần lớn đàn ông châu âu ra trận nên mọi phụ nữ phải làm thay công mọi việc của đàn ông cũng từ đó mà họ khám phá ra rằng mình cũng có thể làm được những việc trước kia tưởng chừng như không thể=>sau WWII bùng nổ phong trào giải phóng phụ nữ và ngay nay ta thấy phụ nữ tham gia vào công việc nghiên cứu,lãnh đạo ngày càng nhiều

Thảo luận 4

"Phía sau thành công của người đàn ông là một người phụ nữ", còn phía sau một người phụ nữ thành công, có người đàn ông nào can đảm để vun vén cho gia đình thay họ ko?
Trước đây, khi con người còn cho việc duy trì nòi giống là số 1, săn bắn hái lượm là phụ hơn, thì vị trí của người phụ nữ là số 1. Còn khi trong xã hội vật chất, vai trò của đàn ông lại được nâng lên, khi con người ta cần miếng ăn để duy trì sự sống.
Xã hội phát triển từ nông nghiệp -> công nghiệp ->trí thức. 2 hình thái xã hội ban đầu, công việc đòi hỏi sức lực nhiều, đàn ông phụ trách phần lớn những công việc kiếm ra tiền nuôi gia đình -> một cách tự nhiên, lúc này phụ nữ thu mình lại, làm những công việc nữ công gia chánh nhẹ nhàng -> dần dần hình thành nên quan niệm :đàn ông làm việc kiếm tiền, phụ nữ vun vén gia đình và chăm con. Cho đến khi xã hội phát triển đến hình thái kinh tế tri thức, phụ nữ có cơ hội được chứng tỏ mình không thua kém ai, thì đã lại quá quen với vai trò từ trước đến nay(vốn đã chiếm một thời gian quá dài) nên chưa thực sự chứng tỏ được bản lĩnh của mình.
Nhưng tớ tin rằng, khi xã hội tri thức tiếp tục phát triển, phụ nữ sẽ chứng tỏ mình không thua kém gì đấng mày râu cả. Tương lai sẽ chứng minh điều đó.

Thảo luận 5

Cho dù xã hội có phát triển thế nào thì công việc sinh con , chăm sóc chúng phụ nữ vẫn phải đảm nhận , như ở Việt Nam bình thường sinh 2 con , mang thai là mất 1 năm , mỗi đứa phải nuôi dạy đến khoảng 5-6 tuổi rất mất nhiều thời gian => phụ nữ không có thời gian cho các hoạt động khác ! , trong các gia đình mà có phụ nữ thành đạt thì hoặc là đàn ông chịu lép vế ở nhà nuôi con , hoặc la nhờ ông bà ngoại , ông bà nội , hoặc là nhờ Osin , nhưng những hình thức đó không thể đảm bảo sự giáo dục của đứa trẻ , nên nhớ trẻ con cần mẹ hơn là cần bố !

Thảo luận 6

Từ thái độ khinh miệt chà đạp phụ nữ của các đạo Độc Thần đến thái độ tôn trọng và ca ngợi phụ nữ trong văn chương bình dân Việt Nam


Charlie Nguyễn

Nói một cách công bình và khách quan thì trong hầu hết các nền văn hóa, Đông cũng như Tây, người phụ nữ luôn luôn bị đối xử một cách bất bình đẳng. Có lẽ vì bản chất của phụ nữ là “chân yếu, tay mềm” “liễu yếu đào tơ” nên cần được phái nam (được mệnh danh là phái mạnh) che chở bao bọc. Từ đó, phụ nữ bị phái nam lấn lướt dành quyền ưu thắng trong mọi sinh hoạt xã hội. Vì vậy, trong mọi xã hội thuộc đủ mọi nền văn hóa, quyền bình đẳng của phụ nữ không ít thì nhiều cũng luôn luôn bị xâm phạm.

Có lẽ các xã hội Phật giáo ít bị mang tiếng nhất về vấn đề nữ quyền. Phật giáo phát khởi trong bối cảnh Ấn giáo, nhưng Đức Phật đã đưa ra nhiều quyết định sáng suốt để tránh cho Phật giáo những khuyết điểm đáng tiếc :

- Đức Phật không chấp nhận những nghi lễ của Ấn giáo đặt trên nền tảng giai cấp phi nhân, vô lý và bất công.

- Đức Phật luôn luôn xác định phụ nữ có khả năng tâm linh cũng như nam giới.

- Đức Phật kịch liệt phản đối tập tục “Sati” là một tập tục dã man vẫn tồn tại trong Ấn giáo cho đến gần đây. Đó là tục người vợ bị buộc phải lên dàn hỏa để được thiêu với người chồng quá cố. Người đã chết không cón sợ hãi hay đau đớn, nhưng người vợ còn sống sẽ phải trải qua những cơn đau đớn kinh hoàng!

Trong bài “Đạo Phật và vấn đề phụ nữ”, tác giả là bà Thái Kim Lan cho biết: Nhà nghiên cứu người Đức là ông Kurt Schmidt, chuyên nghiên cứu về đạo Phật từ thập niên 1920 đã dịch từ tiếng Trung Hoa một số câu kệ của 42 bài kinh nguyên tác bằng tiếng Sankrit. Bản kệ nói trên có đoạn viết lời Đức Phật nói về phụ nữ như sau : “Khi nói chuyện với phụ nữ, hãy nói với sự trong sáng của con tim. Nếu người phụ nữ là một người già nua, hãy xem họ như mẹ. Nếu người đó là một chủ nhân đáng kính, hãy đối xử như một bà chị. Nếu người đó xuất thân thấp kém, hãy xem họ như em gái. Nếu người ấy còn thơ ngây, hãy đối xử tế nhị và lịch sự”. (Bà Thái Kim Lan nguyên là một Phật tử ở Huế. Bà đã du học ở Đức từ thập niên 1970 và trở thành giáo sư đại học ở Đức từ đó đến nay. Bà đã chuyển ngữ đoạn văn trên từ Đức ngữ sang tiếng Việt. Theo bà, dù không đúng từng chữ, nhưng những lời nói trên phản ảnh trung thực tinh thần những lời giảng dạy đích thực của Đức Phật).

Như trên đã trình bày, trong mọi xã hội thuộc mọi nền văn hóa đều có nạn kỳ thị phụ nữ với những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, một sự thật hiển nhiên là không nó một nền văn hóa nào khinh miệt và chà đạp phụ nữ bằng nền văn hóa Độc thần giáo. Đó là nền văn hóa của ba đạo độc thần : đạo Do Thái, đạo Ki Tô và đạo Hồi.

I.- Quan niệm về phụ nữ của đạo Do Thái và đạo Ki Tô.

Đạo KiTô phát sinh từ đạo Do Thái, do đó mọi quan niệm chính yếu liên quan đến niềm tin tôn giáo của đạo KiTô đều được rập khuôn theo đạo Do Thái. Câu chuyện thần thoại Vườn Địa Đàng (Gan-Eden) của người Sumerians ở Babylon đã có từ 3000 năm trước Công Nguyên, không ngờ đã trở thành nồng cốt cho niềm tin của cả Do Thái giáo, KiTô giáo và cho cả Hồi giáo sau này.

Chuyện Vườn Địa Đàng kể rằng : trước hết, Thiên Chúa dựng nên tổ tiên loài người là Adam bằng đất sét. Sau đó, Chúa thấy Adam sống cô đơn buồn bã, nên Ngài rút một khúc xương sườn cụt của Adam để tạo ra bà Evà. Evà bị con rắn nói tiếng người dụ dỗ ăn trái cấm. Evà dụ dỗ chồng là Adam phạm tội chống Chúa, nên cả hai đã trở thành những kẻ đầu tiên phạm tội. Tội này được gọi là “nguyên tội” (the original sin) và là tội đầu tiên của loài người, và đặc điểm của tội này là di truyền cho con cháu loài người đến muôn đời.

Câu chuyện thần thoại Vườn Địa Đàng đã được ông thánh Augustine khai thác tạo thành một gia tài giáo lý, biến Công giáo La Mã thành một tôn giáo nổi tiếng về óc kỳ thị phụ nữ.

Augustine viết: Mỗi người đàn bà là một Evà. Sự kết án của Thiên Chúa không phải trên cá nhân Evà, mà là trên phái tính của các người. Các người là hình ảnh của qủi dữ, vì các người phá hoại đàn ông là hình ảnh của Thiên Chúa. Đàn bà là cửa hỏa ngục. Chỉ vì tội lỗi của các người mà con của Thiên Chúa phải chết .....

Câu chuyện thần thoại Vườn Địa Đàng đưa đến nhiều hậu quả bất lợi cho phụ nữ:

Trước hết, đàn bà phải phụ thuộc đàn ông vì “đàn bà chỉ là một cái xương sườn cụt của đàn ông mà thôi”! Chúa dựng nên Eva trực tiếp từ một cái xương sườn cụt thành một người đàn bà hoàn chỉnh. Cho nên Eva không được sinh ra bởi cha mẹ, không được cưu mang trong bụng mẹ ngày nào, do đó Eva không được sinh ra từ bụng mẹ, không được cắt rốn, và Eva trở thành người duy nhất trên thế giới không có lỗ rốn!

Một trong những lý thuyết quan trọng nhất của Augustine là “tội tổ tông” được di truyền cho con cháu muôn đời là do hành vi giao cấu tội lỗi của cha mẹ. Augustine quan niệm dù là hành vi giao cấu giữa vợ chồng là hợp pháp, nhưng động lực chính yếu vẫn là sự ham muốn dâm dục. Vì vậy hành vi giao cấu của cha mẹ vẫn cấu thành hành vi tội lỗi và làm cho Tội Tổ Tông (Nguyên Tội) được di truyền liên tục muôn đời.

Bà Maria có cha mẹ là ông Joachim và bà Anna. Bà Maria đã được sinh ra bởi cha mẹ. Bà Maria đã được sinh ra từ bụng mẹ, có cắt rốn cho nên bà Maria phải có lỗ rốn. Cái lỗ rốn của bà Maria là bằng cớ hùng hồn chứng tỏ là bà ta đã mắc tội tổ tông, vì (theo lý thuyết của Augustine) bà ta đã sinh ra do sự giao cấu của cha mẹ là ông Joachim và bà Anna.

Một khi bà Maria đã bị “nhiễm tội tổ tông”, thì bà ta sẽ truyền tội cho thằng con trai của bà là Jesus, và biến Jesus thành kẻ có tội (a sinner). Hậu qủa cuối cùng là Jesus không thể vừa là một tội nhân lại vừa là Đấng Chí Thánh! Jesus phải hiện nguyên hình là một người thường (a man), chứ không thể là một thứ quái thai nửa người nửa Thiên Chúa (half-man, half-god). Cái lỗ rốn của bà Maria, không ít thì nhiều, cũng làm tổn hại đến thằng con trai của bà.

Tội Ác Dã Man đối với Phụ Nữ của Công Giáo La Mã và Thệ Phản Giáo dưới chiêu bài Diệt Nạn Phù Thủy.

Tác phẩm “Búa Phù Thủy”, do bác sĩ Trần Qúi Nhu dịch, Giao Điểm xuất bản Hè 2003. Nguyên tác bằng tiếng la-tinh “Malleus Maleficarum” của hai linh mục “quan án đạo” là Heinrich Kramer và James Sprenger. Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1486 để làm tài liệu chính thức cho các quan tòa án đạo xử dụng.

Mấy trang đầu sách có in sắc lệnh 1482 của giáo hoàng Innocent VIII. Sắc lệnh của giáo hoàng là văn kiện luật pháp tối cao chỉ đạo công cuộc diệt phù thủy. Đây là chứng tích không thể chối cãi về một thời kỳ kinh hoàng cho phụ nữ kéo dài 300 năm (1450-1750). Bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể dễ dàng bị ghép vào tội phù thủy. Người phụ nữ có thể bị người hàng xóm thù ghét vu cáo cho tội đã dùng bùa phép làm chết con bò hay con ngựa của hắn ta. Thế là người phụ nữ đó có thể bị truy tố ra Tòa Án Đạo và bị kết tội phù thủy. Một phụ nữ bỗng nhiên bị nổi ở trên mặt một vài cái nốt ruồi hay mụn cơm có hình thù đặc biệt khiến cho kẻ mê tín tin đó là dấu hiệu của ma qủi. Người phụ nữ đó có thể bị kết án về tội phù thủy.

Vào đầu thế kỷ 15, các tu sĩ dòng Đa Minh (Dominicans) được giáo hoàng cử làm các quan án xử tội phù thủy. Trong hai thế kỷ 15 và 16, riêng tại Đức có 100,000 người bị giết bằng cách thiêu sống trên dàn hỏa.

Năm 1572, tại Saxony, phe Thệ Phản giáo (Tin Lành) tỏ ra còn khắc khe với phù thủy hơn cả công giáo La Mã. Cuối thế kỷ 16, phe Thệ Phản giáo thiêu sống 20,000 người riêng tại Saxony. Từ 1615-1635, hơn 5,000 người bị đưa lên dàn hỏa về tội phù thủy tại miền Strasburg.

Sắc lệnh 9-12-1482 của giáo hoàng Innocent VIII

Sắc lệnh của giáo hoàng đưa ra nhiều “kiến thức lạ lùng” về phù thủy,thầy pháp, bói toán, ... Giáo hoàng cũng đưa ra nhiều “niềm tin mê tín” của riệng ông ta để dạy dỗ các quan án :

- Các phù thủy có thể thông đồng với “qủi đực, qủi cái” để gây ra bão táp phá hoại mùa màng, giết hại súc vật.

- Bọn phù thủy đã lạc ra ngoài đức tin Công giáo, sa vào tay qủi dữ và có khả năng xử dụng tà thuật , phù phép, bùa ngải để làm các việc ác.

- Phù thủy có khả năng vận dụng sự di chuyển các ngôi sao để gây ra bệnh hoạn. Họ kết ước với ma qủi để có thể biết trước tương lai bằng cách đoán mộng.

Đó là tiêu biểu những “kiến thức” của giáo hoàng về phù thủy. Giáo hoàng đã tán bậy theo sự suy tưởng ngu xuẩn của hắn. Chủ trương diệt phù thủy thực sự đã bắt nguồn từ Cựu Ước, ít nhất từ 3000 năm trước CN:

- Deut. 7:16 (Sách Phục Luật) “ Ngươi phải diệt các dân tộc mà Thiên Chúa của ngươi đã giao cho ngươi”.

- Deuteromy 18:10 “Phải giết hết các thầy pháp và các thầy bùa ngải”.

- Leviticus 19:26 “Thiên Chúa sẽ đối mặt với các kẻ làm thầy pháp và giết hết bọn này trước mặt dân chúng”.

- Levi. 20:26-27 “Những kẻ làm phù thủy hoặc bói toán phải được đem ra giết hết”.

Giáo hoàng và bọn quan án đạo đã vận dụng cái ngu và cái ác của Thiên Chúa trong Kinh Thánh hợp với cái ngu và lòng mê tín ác nghiệt của chúng để tạo thành một căn bản luật pháp tôn giáo. Bọn chúng đã dám dựa vào cái lòng tin ngu xuẩn của chúng để ra lệnh tàn sát bao nhiêu ngàn sinh linh! Trong 300 năm, từ 1450 đến 1750, ít nhất cũng có 200,000 phụ nữ bị thiêu sống dưới cái tội danh “phù thủy” vu vơ, không có thật. Tội danh này thật sự đã được tạo ra do sự tưởng tượng của những kẻ nặng đầu óc mê tín mà thôi.

II. Quan Niệm của đạo Hồi về Phụ Nữ.

Số tín đồ Hồi giáo hiện nay trên 1 tỷ 200 triệu, trải rộng khắp các lục địa gồm nhiều quốc gia dân tộc với những tục lệ và luật pháp khác nhau. Do đó, số phận của phụ nữ mỗi nơi một khác. Tuy nhiên, vượt lên trên mọi dị biệt của địa phương, kinh thánh Koran và “thánh luật” Sharia là hai bộ sách luật pháp tối cao quyết định phần lớn số phận của người phụ nữ Hồi giáo.

- Koran 33:53 “Phụ nữ phải mặc kín đáo hoàn toàn, không được để lộ phần nào của cơ thể trước mặt bất cứ một người đàn ông nào, bao gồm cả mặt và tay”.

- Koran 4:34 “Đàn ông có thẩm quyền trên người đàn bà. Chúa sinh ra đàn ông cao qúi hơn đàn bà. Đối với phụ nữ không biết vâng lời, đàn ông có quyền ruồng bỏ và đánh đập”.

- Koran 2:22 “Đàn bà là “cánh đồng lạc thú”, đàn ông có quyền chủ động bước vào nếu muốn”.

Các thánh tử đạo lên thiên đàng được chúa Allah cấp cho mỗi người 72 trinh nữ để hưởng lạc suốt đời. Kinh Koran coi “Thiên Đường là khu vườn của lạc thú nhục dục muôn đời”.

Đàn ông không có tội “ngoại tình” vì có quyền lấy nhiều vợ. Đàn bà không được lấy người thứ hai ngoài chồng. Khi bị buộc vào tội ngoại tình thì người đàn bà phải bị đưa ra cho công chúng ném đá cho đền chết.

Tại Afganistan, phụ nữ không được đi học. Các cán bộ tôn giáo có nhiệm vụ như cảnh sát. Họ được trang bị một cái roi dài, quấn dây cáp bằng thép, dùng để đánh bất cứ một phụ nữ nào trên đường phố mà mặc y phục không đúng qui định, như mặc quần áo bó sát thân hình, để lộ vớ trắng ở bàn chân, đeo nữ trang, đi giầy gây tiếng kêu. Phụ nữ bị cấm đi học, cấm làm việc, cấm đi xe đạp, v.v...

Tuy nhiên, mọi sự cấm đoán vô lý và quá đáng cuối cùng sẽ bị phản ứng ngược lại. Xưa kia, trong thế giới Hồi giáo ít có ai dám viết sách chống lại đạo Hồi. Cách đây vài thập niên, nhà văn Anh gốc Ấn rất nổi tiếng là Salmon Rushdie đã dám viết tiểu thuyết “Satanic Verses” chống đạo Hồi và bị giáo chủ Khomeni lên án tử hình. Nhưng ngày nay, người ta thấy có nhiều sách do chính các tín đồ Hồi giáo viết để lên án Hồi giáo và kêu gọi cải tổ. Chẳng hạn như tác phẩm “Tại sao tôi không theo đạo Hồi” (Why I am not a Muslim) của Ign Warra (Prometheus Books xuất bản năm 2003). Ngay ở trang đầu cuốn sách, tác giả đã trích dẫn câu nói rất nổi tiếng của triết gia kiêm sử gia Pháp Joseph Ernest Renan (1823-1892): “Những tín đồ Hồi giáo là những nạn nhân đầu tiên của đạo Hồi. Rất nhiều lần trong các cuộc du lịch của tôi tại phương Đông, tôi thấy sự cuồng tín của một nhóm ít người nguy hiểm đã buộc người khác phải theo đạo bằng cách khủng bố. Giải phóng tín đồ Hồi giáo thoát ra khỏi tôn giáo của họ là việc làm tốt nhất mà chúng ta có thể làm cho họ” (Muslims are the fisrt victims of Islam. Many times I have observed in my travels in the Orient, that fanatism comes from a small number of dangerous men who maintain the others in the practice of religion by terror. To liberate the Muslim from his religion is the best service that one can render him).

Điều làm tôi cảm thấy vui là mới đây xuất hiện một cuốn sách tựa đề “Chuyện rắc rối với đạo Hồi” (The Trouble with Islam) của Irshad Manjii, một nữ tín đồ Hồi giáo ở Đông-Phi (East Africa), Random House, Canada xuất bản 2003. Tác giả tố cáo các chính quyền Hồi giáo trên khắp thế giới xâm phạm nữ quyền và kêu gọi toàn toàn thế giới can thiệp để cải tổ đạo Hồi :

- Tại Nigeria, một cô gái 17 tuổi bị các bạn của cha cô hiếp dâm; có 7 nhân chứng, nhưng cô ta vẫn bị tòa án Hồi giáo phạt đánh 180 roi.

- Tại Pakistan, hiện nay mỗi ngày có ít nhất 2 phụ nữ bị giết vì “honor killing”

- Tại Tunisia và Algéria, phụ nữ Hồi không được lấy chồng ngoài đạo Hồi.

- Cảnh sát Saudi Arabia bắt giam các phụ nữ mua hoa, quà tặng, hay mặc áo đỏ trong dịp lễ Valentine.

- Khi vào đền thờ Hồi giáo, đàn ông và đàn bà đi vào bằng các cửa khác nhau. Đàn bà đứng sau đàn ông, do đó đàn bà có thể nhìn thấy đàn ông, nhưng đàn ông không nhìn thấy đàn bà. Trong đền thờ, chỉ đàn ông có quyền điều khiển các buổi đọc kinh. Đàn bà bị cấm triệt để, vì kinh Koran đã qui định rõ như vậy : “Girls can’t lead prayer. They are not permitted”.

Irshad Manjii là một phụ nữ Hồi giáo trẻ tuổi đã khám phá ra một điều mà tác giả cho là mới mẻ và đáng ngạc nhiên. Trước đó, Manjii nghĩ Hồi giáo là một tôn giáo riêng biệt, nhưng sau đó Manjii mới biết Hồi giáo đã phát sinh từ truyền thống Do Thái – Kitô giáo (Islam comes from Judae-Christian traditions). Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo là ba đạo độc thần, đều là con cháu của một ông tổ chung là Abraham. Hồi giáo là món quà tặng từ Do Thái giáo (Islam is a gift of the Jews). Vấn đề được đặt ra là tại sao Hồi giáo, Do Thái giáo và Kitô giáo lại căm thù nhau, chem giết nhau không nương tay. Đáng lẽ cả ba đạo phải thân thiết nhau mới phải, vì cả hai đều thờ chung một Chúa và cùng một gốc Abraham! Lý do đơn giản là bản chất của độc thần giáo là tự cho đạo của mình có độc quyền chân lý, là “chánh đạo” còn tất cả những ai có ý nghĩ khác họ là “tà đạo”.

III. Thái độ tôn trọng và ca ngợi phụ nữ trong văn chương bình dân Việt Nam.

Dân tộc chúng ta theo truyền thống thờ cúng Tổ Tiên, nên rất tôn kính Ông Bà, Cha Mẹ. Chúng ta coi cha mẹ ngang nhau :

Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ, kính cha

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con.


Cha mẹ là hình ảnh của vợ chồng vì phải là vợ chồng rồi mới thành cha mẹ. Vợ chồng là đầu mối của gia đình, gia tộc và dân tộc. Vì tầm mức quan trọng của mối liên hệ vợ chồng như vậy, nên dân tộc ta đã đưa mối liên hệ vợ chồng thành “Đạo Vợ Chông”, đặt trên căn bản kết ước lâu dài trọn cuộc đời :


Đạo vợ chồng khó lắm anh ơi

Không như ong bướm đậu rồi lại đi.

Vợ chồng bình đẳng và lo giúp đỡ nhau tác động hai chiều:

Xét ra trong đạo vợ chồng

Cùng nhau nương cậy để phòng nắng mưa.

Đôi ta như rắn liu điu

Nước chảy mặc nước, ta đìu lấy nhau.


Đạo vợ chồng đừng có đổi thay

Làm nên danh vọng hay ăn mày cũng theo.


Thuận vợ, thuận chồng

Tát bể Đông cũng cạn.

Trong đời sống gia đình Việt Nam, người phụ nữ luôn luôn đóng vai chính, biểu lộ lòng yêu thương và hy sinh cho gia đình, luôn luôn cần cù siêng năng, chịu khó chịu khổ, tự lực tự cường, chỉ biết trông cậy vào sức mình để lo bản thân, cho gia đình, cho con cái, cho dòng tộc và luôn cho cả đất nước. Phụ nữ Việt Nam giống như hình ảnh con cò trên đồng ruộng :

Trời sinh mẹ đẻ tay không

Nên tôi bay khắp tây đông kiếm mồi

Trước là nuôi cái thân tôi

Sau nuôi đàn trẻ nên đời cò con

Một mai khôn lớn vuông tròn

Rủ nhay bay khắp nước non xa gần.

Nhà thơ Tú Xương ví vợ của ông như con cò ở ven sông :

Thân cò lặn lội bờ sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lịch sử Việt Nam cho thấy nhiều phụ nữ là những anh thư liệt sĩ, như bà Triệu, bà Trưng, Nguyễn thị Xuân :

Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh.

Ghé vai gánh vác sơn hà

Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.


Phụ nữ Việt còn biểu lộ đức tính tự trọng, và hiên ngang lên tiếng chống lại cường quyền. Dưới thời nhà Nguyễn, nhiều nhà nho bị hủ hóa vì tư tưởng Tống Nho, khinh thường văn hóa nước nhà :

“Nôm na là cha mách qué”


coi các nguyên tắc cứng ngắc của Khổng Mạnh như những khuôn vàng thước ngọc. Bà vợ Việt Nam chống lại ông chồng hủ nho chỉ biết trọng cái vỏ hư danh bề ngoài mà không biết lo thực tế :

Ra ngoài làm dáng anh đồ

Về nhà hỏi vợ: “Cám khô đâu mày?”

Cám khô tao để cối xay

Chó mà ăn hết thì mày đừng ăn.


Ngày 6-3-1828, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm phụ nữ không được mặc váy. Phụ nữ dám dùng lời mỉa mai châm biếm chống lại triều đình :

Chiếu Vua mồng sáu tháng ba,

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng

Không đi thì chợ không đông

Đi thì bắt lột quần chồng sao đang!


Có một đức tính rất đặc biệt ở người phụ nữ Việt Nam mà ít có phụ nữ của một nước nào khác có thể có được. Đó là đức tính nhẫn nhịn :

Một câu nhịn, chín câu lành.

Chữ “Nhẫn” là chữ tượng vàng,

Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.

Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi nhỏ lửa thì đời nào khê.



Nói đây cho chị em nhà

Còn dăm bát gạo, còn vài lạng bông

Bán đi trả nợ cho chồng

Còn ăn, hết nhịn, bằng lòng chồng con

Đắng cay ngậm quả bồ hòn.

Vì có nhiều đức tính cao qúi nên phụ nữ Việt Nam được tôn trọng từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Trong một số trường hợp, ý kiến của phụ nữ còn được tôn trọng hơn ý kiến của chồng :

Lệnh ông không bằng cồng bà


Có một câu nói phổ biến trong dân gian, câu nói đó không vần không điệu nhưng cũng rất thông thường trên cửa miệng nhiều người đàn ông Việt Nam. Đó là câu “Nhất Vợ, nhì Trời”.

Dù cho câu nói này chỉ là một câu nói đùa, nhưng nó vẫn là một câu nói độc đáo, vì trong các nền văn hóa độc thần không thể nào có một câu nói tương tự. Những câu nói như “Con cóc là cậu ông Trời” chỉ có thể có trong văn hóa Việt Nam, vì đại đa số dân tộc Việt Nam , tuy hay nói tới “Ông Trời”, nhưng không bao giờ họ tin rằng Ông Trời là Đấng Tối Cao hay Đấng Tạo Hóa Toàn Năng. Các linh mục Công giáo và các mục sư Tin Lành luôn luôn viết sách, viết báo, giảng đạo trên đài phát thanh hay trong các giáo đường, cố gắng đồng hóa “ông Trời” của văn hóa Việt với “Đức Chúa Trời” của đạo KiTô. Họ hí hửng tin rằng: hề người Việt Nam tin có “ông Trời” sẽ đương nhiên tin có “Đức Chúa Trời” mà họ tôn thờ. Thực sự, đối với người Việt Nam, “ông Trời” chỉ là bầu trời xanh, là năng lực thiên nhiên, là sự vận hành của vũ trụ, ... Thế còn sao lại gọi Trời bằng “ông”. Thưa rằng ngưòi Việt chúng tôi còn gọi nhiều “vật” bằng “ông” lắm, như “ông bình vôi”, “ông ba mươi”, v.v... Khi người bình dân Việt nói “Nhất Vợ Nhì Trời” là họ thật sự đặt các bà xã của họ ngồi lên đầu “Ông Trời” đó. Tôi khuyên các linh mục Công giáo và các mục sư Thệ Phản giáo không nên ví “ông Trời” của văn hóa Việt với Chúa Trời của các ông, kẻo bị hiểu nhầm là các bà xã ở nhà được ngồi trên đầu Chúa!



Charlie Nguyễn

Lập Xuân 2004

Thảo luận 7

Phụ nữ sinh ra thường yếu ớt hơn đàn ông, hơn nữa lại mang trách nhiệm sinh đẻ nên thường phụ thuộc đàn ông đi kiếm ăn. 1 lẽ thường tình là kẻ yếu hay bị bắt nạt.
Tuy vậy, phụ nữ thường sống lâu hơn đàn ông. Các cụ bà cũng nhiều hơn cụ ông. Người già thường là người giàu kinh nghiêm, được kính trọng, tiếng nói có trọng lượng. Vậy tại sao đàn bà vẫn bị xem nhẹ hơn đàn ông?

Thảo luận 8

"Đến lầu Hoàng Hạc thấy cảnh đẹp muốn viết thơ. Nhưng không dám cất bút vì có thơ Thôi Hiệu trước rồi".
Muốn viết gì đó cho topic này, nhưng vì đọc bài của bác Newgod rồi. Không còn biết gì hơn là thank bác một cái!

Thảo luận 9

Dù trong xã hội nào, thời nào đi nữa, từ xưa đến nay vai trò của phụ nữ và đàn ông vẫn luôn ngang nhau. Đóng góp của phụ nữ cho lịch sử loài người (xét cả mặt tích cực và tiêu cực) cũng ngang với đàn ông. Tôi xin chứng minh điều này bằng những sự kiện lớn:
- 10 năm chinh chiến ở Troy với mỗi người Hy Lạp, 20 năm đối với Odixeus, cái chết của hàng ngàn người Hi Lạp, hàng vạn người Troy, cái chết của những dũng sĩ vĩ đại như Hector, Achilles, có nguyên nhân là lòng tham của người Hy Lạp, nhưng một nguyên nhân rất quan trọng khác là nhan sắc nàng Helen.
- Người nào khiến nhà Thương suy tàn và bị tiêu diệt: nàng Đát Kỷ, người nào khiến nhà Chu mất lòng tin của chư hầu: nàng Bao Tự, người nào khiến nước Ngô thảm bại dưới tay nước Việt: Tây Thi, người nào khiến tặc thần Đổng Trác bỏ mạng: Điêu Thuyền... Chỉ một vài người phụ nữ cũng có thể khiến hàng triệu người bỏ mạng (đa số là những người đàn ông và chưa từng nhìn thấy nhan sắc của họ). Vậy ai dám kết luận rằng những chuyển biến lớn của lịch sử chỉ có nguyên nhân từ kinh tế (theo Marx) mà không có nguyên nhân từ phụ nữ? Ai dám nói là vai trò, địa vị phụ nữ không bằng đàn ông trong các xã hội?
Hai nhu cầu cơ bản nhất của loài người là tồn tại và duy trì nòi giống. Để tồn tại thì chỉ cần một mình đàn ông hay một mình đàn bà là đủ. Để duy trì nòi giống thì không thể thiếu được cả hai giới. Vậy vai trò của cả đàn ông và đàn bà trong vụ tồn tại và duy trì nòi giống là như nhau.
Xét theo phép biện chứng, nếu đàn ông và đàn bà là hai phạm trù đối lập, thế thì cả đàn ông và đàn bà đều phải cân bằng, bình đẳng, có lúc cái này mạnh cái kia yếu nhưng rồi lúc khác cái kia lại mạnh cái này lại yếu, như vòng tròn âm dương, âm và dương đều có vai trò ngang nhau. Hơn nữa, khi phủ định một mặt nào đó thì ta đã khẳng định mặt đó trên bình diện đối lập. Khi kinh Thánh và kinh Cô ran phủ nhận người phụ nữ, vậy đã chứng tỏ rằng vai trò của phụ nữ rất lớn, Ki tô và Hồi giáo sợ phụ nữ, và phụ nữ chính là lực lượng sẽ phá tan Ki tô và Hồi giáo.
Đến đây xin phép có vài kết luận nho nhỏ:
- Phụ nữ nên tự mình chứng tỏ mình hoàn toàn bình đẳng với nam giới. Thế nhưng phụ nữ hãy hiểu rõ sự "bình đẳng" ấy là như thế nào, đừng kêu gọi suông, cũng đừng lạm dụng sự bình đẳng ấy mà tự cho rằng phụ nữ đáng được nhiều hơn những gì thật sự xứng đáng với họ, bởi vì thực sự vai trò của họ cũng chỉ ngang bằng với đàn ông, không thể vượt qua được đàn ông.
- Đừng tưởng rằng bọn Tây, bọn Pháp bọn Ý nó coi trọng phụ nữ đâu nhé. Bọn nó rất lãng mạn với phụ nữ, đối xử rất tử tế với phụ nữ, luôn nhường nhịn và lịch sự, ga lăng với phụ nữ, "lady first", "không được đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa"... Điều đó chứng tỏ rằng bọn nó coi phái nữ là lũ rất yếu đuối, đáng thương, luôn cần che chở, do đó mà những việc lớn, vai trò lớn ở nước nó hầu như đếch có mặt phụ nữ đâu. Các chị em ta hay đòi anh em mình lãng mạn, ấy là các chị em đã tự coi mình là yếu đuối hơn rồi, không có cớ gì đòi quyền bình đẳng nữa nhé. Cư xử đúng đắn trong chuyện này phải là: Lãng mạn không phải là của riêng đàn ông dành cho đàn bà, muốn bình đẳng thì lãng mạn phải là của cả đàn bà dành cho đàn ông nữa, vậy nên các chị em cũng phải chủ động lãng mạn đi thôi, nếu muốn anh em cũng lãng mạn .

Thảo luận 10

Xin ý kiến một chút về đoạn này của bác SK
- Người nào khiến nhà Thương suy tàn và bị tiêu diệt: nàng Đát Kỷ, người nào khiến nhà Chu mất lòng tin của chư hầu: nàng Bao Tự, người nào khiến nước Ngô thảm bại dưới tay nước Việt: Tây Thi, người nào khiến tặc thần Đổng Trác bỏ mạng: Điêu Thuyền... Chỉ một vài người phụ nữ cũng có thể khiến hàng triệu người bỏ mạng (đa số là những người đàn ông và chưa từng nhìn thấy nhan sắc của họ). Vậy ai dám kết luận rằng những chuyển biến lớn của lịch sử chỉ có nguyên nhân từ kinh tế (theo Marx) mà không có nguyên nhân từ phụ nữ? Ai dám nói là vai trò, địa vị phụ nữ không bằng đàn ông trong các xã hội?
Theo tôi thì Thương hay Chu bại không phải vì một người phụ nữ, thậm chí tôi còn cho rằng họ chỉ là nạn nhân của bọn vua chúa hiếu sắc thôi. Vương triều kết thúc vì các ông vua ông chúa đổ đốn hoang dâm vô độ, không lo cho dân cho nước (thậm chí không lo cho dòng họ mình), như vậy nhất định là phải sụp rồi.
Trả lời Mai Le , 12:33 ngày 17/03/2014 Xem thêm
Thảo luận liên quan