Khả năng phục hồi của tài nguyên không khí, nước và đất


Khả năng phục hồi hay khả năng tự làm sạch của không khí, nước và đất trong một thời gian (từ vài giờ đến vài chục năm) nhờ cơ chế đồng hóa, phân hủy hoặc những quá trình làm giảm nồng độ các tác nhân bất lợi khác.
Con người có thể tận dụng những khả năng này, để tiết kiệm chi phí làm sạch môi trường, tăng giá trị của tài nguyên.
2.2.1.Tài nguyên không khí Không khí sạch chứa 78% N, 21% O2, 0,93% Argon, 0,03% CO2, hơi nước (từ 1 dến 4% tùy theo nhiệt độ) và 0,01% các chất khác (H2, Ne, Xe ..). Thành phần các khí trong không khí ổn định là nhờ các chu trình sinh địa hóa học của thiên nhiên, đặc biệt là chu trình cacbon, nitơ.
Khả năng tự phục hồi của không khí phụ thuộc nhiều vào các thành phần tự nhiên khác và các sinh vật trên đất liền và đại dương.
 Quá trình sa lắng
 Sa lắng khô là sự lắng xuống mặt đất, tán lá và những bề mặt công trình của các chất khí hoặc chất lơ lửng theo trọng lực. Quá trình này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Nếu kích thước của hạt > 1  m (d > 1  m), tốc độ sa lắng khô sẽ nhanh hơn.
 Sa lắng ướt: các chất khí lơ lửng trong không khí bị cuốn theo nước mưa rơi xuống, hoặc kết dính với hơi nước tích tụ trong những đám mây. Vì vậy, sau cơn mưa không khí được trong sạch hơn.
 Quá trình phát tán
 Là sự lan rộng các chất ô nhiễm trong không khí từ nguồn thải dưới tác động của các điều kiện khí tượng (đặc biệt là gió), địa hình và chiều cao của nguồn thải.
 Làm tăng thể tích không khí bị ô nhiễm, nhưng khối lượng các chất ô nhiễm không đổi, nên nồng độ ô nhiễm giảm so với nguồn thải. Nếu phạm vi phát tán càng rộng và xa thì nồng độ ô nhiễm càng giảm.
2.2.2.Tài nguyên đất Khả năng phục hồi của tài nguyên đất phụ thuộc vào quá trình hình thành đất. Quá trình hình thành đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên như đá mẹ (đá tạo thành đất), thực vật, khí hậu, nước, địa hình, trong đó, vi sinh vật, thảm thực vật có vai trò quan trọng trong việc tạo và giữ đất. Nếu mất thảm thực vật, đất không giữ được và quá trình phục hồi đất còn kéo dài.

Chất lượng của tài nguyên đất còn tùy thuộc vào cách thức sử dụng đất của con người.
Tốc độ tạo đất ở các vùng nhiệt đới từ 2,5-12,5 tấn/ha/năm. Nếu tốc độ xói mòn đất cao hơn mức trên, cùng với tốc độ mất rừng tăng nhanh, tài nguyên đất rất khó phục hồi.
2.2.3.Tài nguyên nước Tài nguyên nước có khả năng tự phục hồi nhờ 2 quá trình chính là quá trình xáo trộn, quá trình khoáng hóa.
 Quá trình xáo trộn hay pha loãng: Là sự pha loãng thuần túy giữa nước thải và nước nguồn. Quá trình này phụ thuộc vào lưu lượng nguồn nước, nước thải, vị trí cống xả và các yếu tố thủy lực của dòng chảy như vận tốc, hệ số khúc khuỷu, độ sâu. Trong điều kiện thủy lực trung bình, một lít nước thải cần lượng nước nguồn pha loãng gấp 40 lần.
 Quá trình khoáng hóa: Là quá trình phân giải các liên kết hữu cơ phức tạp thành các chất vô cơ đơn giản, nước và muối khoáng với sự tham gia của các vi sinh vật.
Tùy theo loại vi sinh vật, có 2 quá trình khoáng hóa khác nhau:

 Khoáng hóa hiếu khí: có sự tham gia của các vi sinh vật hiếu khí. Trong quá trình khoáng hóa hiếu khí xảy ra sự oxy hóa các chất hữu cơ chứa C, P, S thành CO2 và các muối khoáng tương ứng. Ví dụ:

 Khoáng hóa kỵ khí: có sự tham gia của các vi sinh vật kỵ khí. Quá trình này sẽ tạo thành các chất CH4, CO2, H2S, NH3, H2 cùng các sản phẩm trung gian.
Ngoài 2 quá trình trên, tài nguyên nước có thể tự phục hồi nhờ quá trình lắng đọng.


Khả năng phục hồi của tài nguyên không khí, nước và đất
Trả lời Mai Le , 21:43 ngày 25/12/2013 Xem thêm
Thảo luận liên quan
Khả năng phục hồi của tài nguyên không khí, nước và đất Khả năng phục hồi của tài nguyên không khí, nước và đất
7/10 924 bài đánh giá