14/10/2013, 16:04 #1

Phân tích Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn

Đề bài: Phân tích Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn (bản dịch của Đoàn Thị Điểm):


... Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong,
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô,
Giọt sương phủ, bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng đế, nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên,
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm,
Hoa đãi nguyệt, nguyệt một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông...
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau.



Đây là đoạn trích tiêu biểu cho giá trị nhân đạo của tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc. Đoạn trích nói lên nỗi nhớ nhung, sầu muộn của người chinh phụ trong các cuộc chiến tranh phong kiến vốn diễn ra triền miên vào cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX ở nước ta. Trong các cuộc chiến tranh giữ nước, hình tượng trung tâm của văn học thường là người lính xông pha trận mạc. Song, vào thời kỳ đó, ở nước ta, hầu hết các cuộc chiến tranh chỉ là sự giành giật, xâu xé của các tập đoàn phong kiến, thậm chí của các dòng họ. Người vợ xa chồng không tính bằng ngày, bằng tháng mà là năm này sang năm khác, nhiều khi vô vọng. Lâu dần, những khát vọng hạnh phúc lừa đôi, gia đình, khát vọng được đoàn tụ, sum vầy đã vượt lên trên những danh vọng hão huyền mà người đàn ông có thể đem về sau cuộc chiến.

Mặc dù còn không ít những điển cố và lối diễn đạt ước lệ, nhưng đoạn trích đã thể hiện khá chân thành và sâu sắc nội tâm người chinh phụ khiến người đọc không còn nghĩ đây là tâm tình của một phụ nữ trong sử sách cổ ở một đất nước xa xôi nào đó mà là nỗi lòng của hàng ngàn, hàng vạn người vợ Việt Nam trong một thời đại rối ren và đầy bão tố.

Khi phân tích nên chú ý bố cục của đoạn trích và có thể phân tích theo từng phần của bố cục này:

1. Hai khổ thơ đầu là tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ.

... Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong,
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.


Điểm đặc biệt của hai khổ thơ này là nhà thơ biểu hiện tâm trạng chinh phụ qua hình tượng không gian: gió đông, non Yên, bầu trời. Không gian ở đây rất rộng lớn. Người ta gọi đặc trưng nghệ thuật này là tính chất phúng dụ, tức là cách sử dụng một loạt hình tượng kết hợp lại với nhau thành một cấu trúc hoàn chỉnh để tạo ra nghĩa biểu trưng đằng sau nghĩa cụ thể. Nghĩa biểu trưng của phúng dụ trong các khổ thơ này là sự đối lập giữa không gian vô cùng vô tận của trời đất với nỗi nhớ nhung, sầu muộn của chinh phụ. Sự đối lập ấy tất làm bật lên tâm trạng kia.

Khổ thơ có điển cố non Yên, tức núi Yên Nhiên thuộc Mông Cổ, vùng tiếp giáp ở phía Bắc của Trung Hoa, chỉ vùng biên ải xa xôi hiểm trở. Gió đông là gió mùa xuân, cũng là một hình ảnh ước lệ. Song, đặt vào tâm trạng tha thiết của chinh phụ, chúng không có vẻ gì khuôn sáo nữa. Người ta chỉ thấy, khoảng cách giữa nàng và chồng ngày một muôn trùng xa cách và đọng lại vẫn là nỗi lòng đau đáu trong không gian và thời gian:

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong,
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phùn.


2. Các khổ còn lại nêu cảnh vật và tâm trạng của chinh phụ.
Các khổ thơ còn lại dựng nên những bức tranh thiên nhiên bốn bề nơi người chinh phụ:

Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô,
Giọt sương phủ, bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng đế, nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên,
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm,
Hoa đãi nguyệt, nguyệt một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông...


Bức tranh thiên nhiên ấy có cảnh gần, cảnh xa (Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện xa), có âm thanh, sắc màu, có khi sớm, khi muộn... Đây thực sự là lối tả cảnh ngụ tình khéo láo. Cả đoạn thơ dài (12 dòng), chỉ có dòng cuối vẽ nên tâm trạng con người (Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau), nhưng tấm lòng ấy như đã dài dầu với bao tháng bao năm. Nó khiến cho nỗi nhớ nhung sầu muộn từng nói ở đoạn thơ trên thêm dằng dặc, không dứt. Hoá ra, cảnh sắc thiên nhiên kia chỉ là những cung bậc trong nỗi lòng của người chinh phụ. Từng ấy cung bậc, trong một nỗi lòng, người phụ nữ kia làm sao không héo hắt, mỏi mòn?


Theo Những bài văn mẫu*
View more random threads:
  • Diễn biến tâm lý trong Chinh phụ ngâm
  • Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - Trích...
  • Hãy chỉ ra các yếu tố ngoại cảnh thể hiện...
  • Bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ qua Độc...
  • Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
  • Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm
  • Tìm hiểu đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người...
  • Phân tích Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh...
  • Nghị luận xã hội tình cảnh lẻ loi của người chinh...
  • Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người...
var pageOptions = { 'webId' : 535, 'category' : 0 }; var adblock = { 'adblock1' : { 'divIdShow' : 'adVatgia_block_1', 'numAd' : 3, 'typeShow' : 1, 'style' : {'width' : 950} } }; new vatgiaAd(pageOptions, adblock).Ads(); Nguồn: http://diendankienthuc.net.
Trả lời Mai Le , 16:04 ngày 14/10/2013 Xem thêm
Thảo luận liên quan
Phân tích Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn Phân tích Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn
7/10 924 bài đánh giá

Làm thế nào để ghi điểm?

Đăng thảo luận 6 điểm

Đăng blog 5 điểm

Bình luận 2 điểm

Qui định cộng điểm...