Học thầy không tày học bạn - lời dịch - diễn đàn seo

Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử

CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ


I. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, mốc vàng trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc thời đại to lớn.

1. Bối cảnh lịch sử


Thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 19/12/1946 với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nhất tề đáp lời Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ thù xâm lược.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Quân ta càng đánh, càng mạnh, càng thắng, quân viễn chinh Pháp càng ngày càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Vùng giải phóng mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố. Đến năm 1953, nhân dân và quân đội ta đã làm chủ trên chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu – Đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Nava tăng viện lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương. Kế hoạch Nava là kế hoạch chung, là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính quyết định về quân sự trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Để đạt được mục tiêu đó, Pháp và Mỹ đã lập kế hoạch đến năm 1954 quân chủ lực Pháp có 7 sư đoàn cơ động chiến lược với 27 binh đoàn làm nắm đấm thép.

Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ hở và nơi tương đối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào, Đông Campuchia, Tây Nguyên và Thượng Lào, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng của địch, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp chiến trường Đông Dương, đẩy chúng vào tình thế bị động chiến lược. Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ.

Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy là kế hoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava của Pháp và Mỹ, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã liên tiếp cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Địch đã cho tập trung ở đây 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hệ thống hoả lực mặt đất khá mạnh với 2 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 đại đội pháo 155mm, 1 đại đội súng cối 120mm được bố trí ở Mường Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với gần 100 lần chiếc lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 tên địch, đảm bảo nguồn tiếp viện cho quân Pháp trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ. Nava coi Điện Biên Phủ như “một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

Trước tình hình đó, ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm mạnh nhưng chỗ yếu cơ bản của địch là bị cô lập. Về phía ta, Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay; diễn ra trên địa bàn rừng núi hiểm trở, đường cơ động cho pháo khó khăn, thời gian chuẩn bị cho chiến dịch gấp. Nhưng chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng; khó khăn lớn nhất của ta là vấn đề cung cấp hậu cần nhưng chúng ta có thể khắc phục được. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng của chiến dịch Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ đã quyết định tập trung 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40.000. Chấp hành quyết định của Bộ Chính trị, mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương; cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; 261.451 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.

2. Diễn biến của chiến dịch

Ngày 25/01/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đắn: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định đúng đắn nhưng ta cũng gặp không ít khó khăn. Đó là, thời gian tác chiến dài hơn, cách đánh cũng khác nên có những việc ta phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hoả lực chiến dịch. Với địa hình hiểm trở, pháo của ta kéo vào tập trung tại trận địa đã khó khăn, nay thay đổi phương châm tác chiến lại phải kéo pháo phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao tạo thành vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, để bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo càng khó khăn hơn. Với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ, hy sinh, quân và dân ta đã tìm mọi cách vượt qua thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trận quyết chiến lược Điện Biên Phủ đã diễn ra 3 đợt.

Đợt 1:
Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã mưu trí dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh; Pirốt, Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ bất lực trước pháo binh của ta đã dùng lựu đạn tự sát.

Đợt 2: Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian. Nava hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2 khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Đợt 3: Từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày 06/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm. Tên quan Tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch.

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, một trận tiêu diệt điển hình nhất, là trận đầu đánh thắng Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương. Tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

II. Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ

1. Nguyên nhân thắng lợi


- Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã đề ra đường lối kháng chiến, đường lối quân sự độc lập, đúng đắn, sáng tạo. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và phong kiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc xây dựng chế độ mới. Ngay từ ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; tiến công quân sự, địch vận và nổi dậy của quần chúng; đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao. Trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, lòng yêu nước và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã tạo nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

- Nhân dân ta rất anh hùng, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ đến già nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của bảo đảm đầy đủ mọi điều kiện cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận.

- Các lực lượng vũ trang nhân dân ta trưởng thành vượt bậc về tư tưởng chính trị, lực lượng, tổ chức chỉ huy, trình độ tác chiến, trang thiết bị quân sự và bảo đảm hậu cần cho chiến dịch quân sự quy mô lớn chưa từng có; chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến trường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm hy sinh lập nhiều chiến công trên khắp chiến trường Đông Dương, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở chiến trường Điện Biên Phủ.

- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn có sự chi viện, cổ vũ và ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh vì hoà bình của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có cả nhân dân Pháp, đặc biệt là của các nước trên bán đảo Đông Dương cùng chung chiến hào, đã tạo nên sức mạnh thời đại của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

2. Ý nghĩa lịch sử

2.1- Đối với nhân dân ta

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang của thời đại Hồ Chí Minh.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định tạo bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám; một nửa nước được giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

2.1 - Đối với thế giới

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành luỹ của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định thắng lợi; đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

(ST)
View more random threads:
  • Người kỵ mã cầm cờ vào Thăng Long
  • Kiên định mục tiêu, sáng tạo giải pháp.
  • Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
  • Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử
  • Những cuộc đổi Họ lớn trong Lịch sử
  • Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp...
  • Lịch sử Việt Nam từ 1954 - 1975
  • Hoàng Sa - Trường Sa là Hải đảo lâu đời của Việt...
  • Sài Gòn, những ngày tháng Tư
  • Thế trận “Bạch Đằng” trên sông Cửa Việt
var pageOptions = { 'webId' : 535, 'category' : 0 }; var adblock = { 'adblock1' : { 'divIdShow' : 'adVatgia_block_1', 'numAd' : 3, 'typeShow' : 1, 'style' : {'width' : 950} } }; new vatgiaAd(pageOptions, adblock).Ads(); Nguồn: http://diendankienthuc.net. Ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 là cuộc tiến công lớn nhất của ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Dựa vào thế chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, bộ đội ta đã mở những chiến dịch, những đợt hoạt động đánh địch ở khắp các địa bàn chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương. Những hoạt động tác chiến của ta, đặc biệt là trên năm hướng chiến lược buộc Na-va phải phân tán khối lực lượng cơ động chiến lược, chiến thuật, tạo thời cơ cho ta tập trung sức mạnh của cả dân tộc thực hiện trận quyết chiến lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng. Chiến thắng Đông Xuân 1953- 1954, với đỉnh cao chiến dịch Điện Biên Phủ tiêu diệt phần lớn lực lượng tinh nhuệ của đội quân viễn chinh Pháp thể hiện sức mạnh to lớn của dân tộc và sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang ta trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm.

Cùng với sự phát triển vượt bậc của lực lượng vũ trang, chiến thuật của quân đội ta trong Đông Xuân 1953-1954 vừa có bước phát triển toàn diện vừa có bước phát triển nhảy vọt, trở thành đỉnh cao trong lịch sử phát triển chiến thuật của quân đội ta kể từ sau ngày thành lập đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1944-1954).

Sự phát triển toàn diện trước hết thể hiện ở sự phát triển đồng đều trên tất cả các chiến trường. Từ chiến trường gần sự chỉ đạo của Trung ương như chiến trường chính Bắc Bộ đến các chiến trường xa-mà ở đó sự chỉ đạo cũng như tiếp tế rất khó khăn, như các chiến trường Nam Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên... trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ, khả năng thực hành chiến đấu của bộ đội đều được nâng lên rõ rệt. Chiến trường Tây Nguyên có trận công kiên Măng Đen quy mô trung đoàn diệt một cụm cứ điểm kiên cố, trận phục kích Đắc Pơ diệt cả binh đoàn cơ động, trận tập kích Plây Cu, kết hợp cả bộ binh và đặc công đánh vào nơi tập trung đầu mơl chỉ huy nằm sâu trong hậu phương... Chiến trường Trung-Hạ Lào có các trận tập kích Khăm He, Kha Ma quy mô trung đoàn, tiến hành trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp diệt hàng tiểu đoàn địch. Chiến trường Thượng Lào có nhiều trận truy kích đạt hiệu quả cao của đại đoàn 308. Chiến trường Nam Bộ có trận Tầm Vu (2-1954), phục kích táo bạo ở vùng đồng bằng loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn nguỵ và một đại đội quân Pháp. Nam Bộ còn phát huy cánh đánh đặc công nhiều sáng tạo và hiệu quả, gây cho địch những tổn thất to lớn. Chiến trường miền Trung có trận tập kích Phò Trạch (Quảng Trị) diệt 200 địch, trận tiến công địch ở An Hoà (Thừa Thiên), tiến công cứ điểm đèo Thượng An, phục kích địch ở chân đèo Măng Giang đạt hiệu quả rất cao... Có thể nói các chiến trường xa, chiến trường nào cũng có những trận đánh hay, những trận quy mô lớn thể hiện sự phát triển của chiến thuật.

Sự phát triển toàn diện còn thể hiện ở chỗ các hình thức chiến thuật đều có bước phát triển hoàn thiện hơn. Phục kích, tập kích, công kiên, vận động tiến công, truy kích, tao ngộ chiến... đều được sử dụng đến quy mô tiểu đoàn, trung đoàn, đạt hiệu quả cao và có nhiều tiến bộ so với giai đoạn trước.

Phục kích, một trong những chiến thuật cơ bản vẫn được sử dụng một cách rộng rãi và nhiều trận đã đi tới sự phát triển cao nhất của phục kích trong kháng chiến chống Pháp như các trận Vọng Doanh - Giáp Giá, Bần - Như Quỳnh, Tầm Vu, sông Đào, Đắc Pơ.... Những trận phục kích đỉnh cao trong giai đoạn này là các trận quy mô trung đoàn, tiểu đoàn tác chiến "tập trung chính quy", nằm trong ý đồ chung của chiến dịch, đợt hoạt động, được thực hiện không chỉ ở vùng rừng núi hiểm trở dễ giấu quân mà ngay cả ở vùng đồng bằng nằm sâu trong hậu phương địch. Đối tượng tiêu diệt của các trận phục kích trong giai đoạn này không chỉ còn là các trung đội, đại đội, các đoàn xe vận chuyển mà đã là các tiểu đoàn thiện chiến thuộc các binh đoàn cơ động của quân Pháp.

Tổ chức đội hình các trận phục kích đã đầy đủ bộ phận của trận vận động phục kích hiện đại, bao gồm: bộ phận diệt địch chủ yếu, bộ phận chặn đầu, bộ phận khoá đuôi, bộ phận đối diện, bộ phận dự bị và bộ phận hoả lực. Việc tổ chức và bố trí các bộ phận này cũng được tính toán phù hợp với từng loại đối tượng và cự ly phải vận động đánh địch để sao cho khi nổ súng xung phong hình thành ngay thế bao vây chia cắt, áp sát diệt địch, không cho chúng kịp chấn chỉnh đội hình ngăn chặn bộ đội xung phong.

Tập kích giai đoạn này sử dụng rộng rãi cả kỳ tập và cường tập. Các trận cường tập thường đánh đối tượng là các đơn vị địch tạm dừng trong quá trình đi càn quét hoặc mới chiếm đóng để chuẩn bị tiến công hay ngăn chặn các hướng nghi ngờ ta sẽ tiến công Đặc điểm của địch trong trường hợp này là tổ chức phòng ngự chưa ổn định, hoả lực bố trí chưa chặt chẽ, công sự sơ sài... Phía ta muốn tập kích thành công phải tổ chức chiến đấu hết sức khẩn trương, phải bôn tập từ xa đến, bí mật áp sát, dùng hoả lực bản thân chế áp ngắn tạo điều kiện cho bộ binh xung phong chia cắt tiêu diệt địch. Các trận Văn Lý-Xương Điền (Nam Định), trận đồi 94 (chiến dịch tây nam Ninh Bình), trận Khăm He, Khăm Ma là những trận tập kích điển hình của ta trong đánh quân địch tạm dừng. Các trận kỳ tập thường đánh đồi tượng là quân địch ở các thị xã, các sân bay, các kho tàng, trận địa hoả lực nằm sâu trong hậu phương của chúng. Với đối tượng này, ta thường sử dụng lực lượng tinh nhuệ (đặc công), bí mật luồn vào hậu phương địch, áp sát các mục tiêu quan trọng rồi đồng loạt sử dụng thủ pháo, vũ khí cá nhân tiêu diệt sinh lực, phá huỷ kho tàng, phương tiện chiến tranh của địch. Các trận tập kích thị xã Kiến An, thị xã Plây Cu, sân bay Cát Bi, sân bay Gia Lâm... là những trận điển hình trong đánh đối tượng này.

Quy mô các trận tập kích trong giai đoạn này phổ biến là cấp tiểu đoàn và trung đoàn. Với trận đánh quy mô tiểu đoàn, trung đoàn đánh quân địch tạm dừng, muốn giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ - một yêu cầu cơ bản của chiến đấu tập kích, người chỉ huy phải tổ chức chiến đấu rất khẩn trương linh hoạt, mạnh dạn quyết đoán đánh đúng thời cơ và phải có biện pháp hiệp đồng chặt che giữa các bộ phận, biện pháp bảo đảm bí mật trong quá trình hành quân tiếp cận địch. Những trận Văn Lý-Xương Điền, Khăm He, Khăm Ma là những trận đánh trong đó công tác tổ chức chỉ huy của người chỉ huy đã đáp ứng được yêu cầu này.

Một nội dung thể hiện sự phát triển hoàn thiện của chiến thuật tập kích trong giai đoạn này là tổ chức đội hình tập kích nhiều mũi nhiều hướng, khí nổ súng mạnh dạn thọc sâu, chia cắt, thực hiện bao vây vu hồi, chủ động phối hợp hiệp đồng đánh địch trong tung thâm, thực hiện đánh nhanh, giải quyết nhanh.

Nếu trong ý nghĩ của tướng tá Pháp, Mỹ, Điện Biên Phủ là một "tập đoàn cứ điểm đáng sợ", "chặt chẽ, hoàn hảo", thì đối với quân và dân ta nó không phải không có điểm yếu. Trong cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 6-12-1953 dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể Bộ Chính trị đã đánh giá: Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng điểm yếu cơ bản là bị cô lập, xa hậu phương địch, mọi tiếp tế, vận chuyển phải dựa vào đường hàng không. Nếu ta chặn được đường tiếp tế của địch thì tập đoàn cứ điểm đó chỉ là "con chim sắt gẫy cánh". Hơn nữa, khi xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Nava không tính đến tinh thần yêu nước, quyết hy sinh xương máu vì một nền độc lập dân tộc của quân và dân ta, đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương thời bấy giờ.

Nếu khi xưa, Điện Biên Phủ là một hệ thống công sự, hầm hào từng được tôn vinh là "biểu tượng của đại Pháp", thì ngày nay vẫn những công sự đó, vẫn ngổn ngang trên khắp cánh đồng Mường Thanh từng đống sắt thép hoen gỉ, những xác chiến xa, phi cơ, trọng pháo đủ loại hình, kích cỡ, đủ hãng chế tạo với đủ mọi ưu thế trận mạc,... đã là niềm tự hào của dân tộc Việt. Hàng nghìn vị anh hùng của dân tộc đã hy sinh anh dũng ở nơi đây để cho đất nước độc lập.

Với tinh thần anh dũng đó, mảnh đất bị chiếm đóng khi xưa đã trở thành một địa danh trường tồn của dân tộc, một địa điểm du lịch lịch sử nổi tiếng của Việt Nam. Ngày hôm nay, người dân Điện Biên đã chôn chặt quá khứ đau thương tập trung xây dựng để biến chiến trường xưa trở thành những cánh đồng thơm ngào ngạt hương lúa, hương hoa.

Nguồn: Sưu tầm
Nguồn: http://diendankienthuc.net.
Trả lời Son Dong , 15:09 ngày 16/10/2013 Xem thêm
Thảo luận liên quan
Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử
9/10 924 bài đánh giá